Kẻ cô cùng trong dịch bệnh thời xưa được cứu giúp ra sao?

Lập nhà dưỡng tế Việt Nam sử lược, nhà sử học Trần Trọng Kim cho biết vua Lê Thánh Tông đã cho lập các nhà tế sanh để nuôi những người đau ốm vì bệnh tật và “khi nào ở đâu có dịch tễ thì sai quan đem thuốc đi chữa bệnh”. Tại điều 11, quyển III Luật Hồng Đức còn nêu rõ: “Trong kinh thành hay phường, ngõ và làng xóm có kẻ đau ốm mà không ai nuôi nấng, nằm ở đường sá, cầu, điếm, chùa, quán, thì xã quan đó phải dựng lều lên mà gìn giữ, săn sóc và cho họ cơm cháo thuốc men, cốt sao cứu cho họ sống, không được bỏ mặc cho họ rên rỉ khốn khổ”. Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, quyển 63 về “Quyết tuất” có ghi chép về việc lập các nhà dưỡng tế ở nhiều nơi, từ thời Gia Long đến thời Minh Mạng. Vào năm Gia Long thứ 13 (1834), vua Gia Long còn ra một định lệ rất cụ thể về các nhà dưỡng tế ở kinh thành. Nhà vua cho lấy đất trống ở mé thành thiết lập 3 tòa nhà dưỡng tế, có đầy đủ giường sàn. Ở giữa một tòa 3 gian, 2 chái làm chỗ để chế thuốc; hai bên tả hữu có 2 tòa, mỗi tòa 5 gian 2 chái dành cho bệnh nhân ở. Rồi truyền cho các nơi: Quán trọ, đường sá, xã, thôn, phường, chợ, ở trong thành, nếu thấy có những kẻ lang thang ở nhờ, ở đỗ, làm thuê, làm mướn kiếm ăm, lỡ bị bệnh tật, không người cấp dưỡng thì lý dịch sở tại đưa họ đến nhà dưỡng tế giao cho viên Ty Thừa biện để biên tên tuổi, quê quán; hằng ngày cấp phát tiền, gạo, và tùy theo bệnh mà cấp thuốc thang.

Quyển 63, mục Quyết tuất của Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ có ghi chép khá kỹ về việc cứu giúp kẻ cô cùng

Ảnh: T.L

Giúp kẻ cô cùng đến cả khi chết

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép: Vào năm Hồng Đức 28 (1497), lại có dụ cho Nghệ An rằng: Quân, dân, những người không vợ, góa chồng, đói rét, bệnh tật, tàn phế, nếu ai có thiếu ăn thì hai ty Thừa, Hiến giao xuống cho các quan phủ, huyện, kê khai ngay tên của những người ấy làm bản tâu lên để cấp cho họ thóc công chứa trong kho, mỗi người 100 thăng, đến khi lúa chín sẽ chiếu theo số thóc vay mà thu nộp.

Bìa Đại Việt sử ký toàn thư (bản Nội các quan bản)

Ảnh: T.L

Hội điển sự lệ, trong Đại Nam thực lục, cũng có nhiều đoạn ghi chép về việc cứu giúp kẻ cô cùng. Vào năm Tự Đức thứ 17 (1864), Doanh điền sứ đạo Quảng Trị, phủ Thừa Thiên là Trần Đình Túc có báo với vua là, trong lúc đi đường nhận nhiệm sở, ông gặp nhiều đàn ông, đàn bà có vẻ đói xanh, có kẻ đi một mình, có kẻ đem vợ con cùng đi; hỏi ra mới biết họ là dân Nam, Ngãi bị đói đi phiêu lưu kiếm sống, và xin cấp cho lương gạo (ai có vợ con thì mỗi tháng cấp cho 1 phương gạo, không có vợ con thì cấp 15 bát gạo), cấp cho họ năm ba tháng, khi nào họ tự sinh sống được thì thôi không cấp nữa. Trần Đình Túc còn xin lượng cấp cho những kẻ cô cùng này các loại dao bổ củi, cuốc sắt để họ tự làm ăn. Nghe lời tâu, vua Tự Đức than rằng: “Dân Nam Ngãi có khổ trạng như thế, vậy mà từ trước tới nay không ai tâu lên”, rồi bèn sai phủ thần khảo sát, thì đúng quả thực như vậy. Sau đó, không những nhà vua cho cứu giúp, như lời tâu của Trần Đình Túc, mà còn có chỉ dụ, nếu ai muốn xin ở lại, thì người khỏe mạnh giao cho Doanh điền để họ tự lo cày cuốc; người già ốm, trẻ nhỏ thì cho vào ở nhà dưỡng tế (Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tứ kỷ - quyển XX). Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tứ kỷ, quyển LI). Xử phạt quan chức thờ ơ Luật Hồng Đức, tại điều 12, quyển III, có quy định: Những người vợ góa chồng, mồ côi và người tàn tật, nghèo khổ không nơi nương tựa, không thể tự mưu sinh được mà quan sở tại bỏ rơi họ thì bị xử đánh 50 roi, biếm một tư. Nếu họ được cấp cơm áo, mà quan lại ăn bớt đi thì phải ghép vào tội như người giữ kho ăn trộm của công. Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, quyển 63).